Bùi Văn Nam Sơn : Diễn từ nhận Giải thưởng Tinh hoa Giáo dục Quốc tế
PHÁT BIỂU
trong buổi lễ nhận giải « Tinh hoa Giáo dục Quốc tế » của Quỹ Dịch thuật Phan Châu Trinh ngày 9.11.2007 tại Hà Nội
Bùi Văn Nam Sơn
LTS - Ngày 9.1.2007 vừa qua, tại Hà Nội, đã có cuộc họp mặt kỉ niệm một năm ngày ra mắt Nhà xuất bản Tri Thức và Quỹ dịch thuật Phan Châu Trinh. Nhân dịp này, Quỹ dịch thuật Phan Châu Trinh đã trao giải "Tinh hoa Giáo dục Quốc tế" cho Bùi Văn Nam Sơn, tác giả bản dịch và chú giải tác phẩm Phê phán lí tính thuần tuý của Immanuel Kant (nhà xuất bản Văn Học, 2004). Diễn Đàn đăng dưới đây bài phát biểu của người nhận giải. Sau khi nói tới tầm quan trọng của công tác biên dịch các tác phẩm tinh hoa của kho tàng tư tưởng thế giới, tác giả nói tới vai trò của Kant, nhà giáo dục.
Kính thưa Quý vị,
Trước hết, xin cho phép tôi kính gửi đến tất cả Quý vị lời chào trân trọng và lòng cám ơn chân thành trước tình cảm và các lời đánh giá đầy ưu ái của Quý vị.
Thú thật, có nhiều lý do khiến tôi hết sức ngại ngùng khi được báo tin, và hôm nay, trong không khí trang trọng của buổi Lễ ra mắt Quỹ Dịch thuật, được vinh dự nhận “giải thưởng lớn” đầu tiên của Quỹ [1] dành cho việc dịch và chú giải quyển Phê phán lý tính thuần tuý của Immanuel Kant, một việc làm vốn âm thầm, riêng lẻ, tưởng đã rơi vào quên lãng của một người Việt lưu lạc lâu năm ở nước ngoài, chẳng biết làm gì để gọi là đóng góp chút ít cho quê hương. Nhưng, lại cũng có nhiều lý do buộc tôi phải “cung kính bất như tuân mệnh” khi hiểu rằng đây không chỉ là tấm lòng ưu ái của Quý vị trong Hội đồng giám định dành cho cá nhân tôi mà còn là cử chỉ tượng trưng nhằm khích lệ các nỗ lực theo tôn chỉ và mục đích của Quỹ, nhất là khi Quỹ Dịch thuật này do Liên hiệp các Hội Khoa học Kĩ thuật Việt Nam chủ trương được mang tên nhà khai sáng Phan Châu Trinh. Ôi, Phan Châu Trinh của Chí thành thông thánh mà hình ảnh của Cụ như phảng phất đâu đây đang lặng nhìn chúng ta bằng ánh mắt nghiêm khắc lẫn tin cậy : “Chư quân vị tất vô tâm huyết?” (Các anh chị em hẳn không phải là không có tâm huyết?) [2] . Vì thế, khi được mang tên Cụ, thiết nghĩ Quỹ dịch thuật tự đặt cho mình trách nhiệm khá nặng nề, nếu không muốn nói to tát hơn, một “sứ mệnh văn hóa” trong bối cảnh hiện nay của đất nước. Với tất cả sự xúc động khi nhận giải thưởng mang tên Cụ và được tham dự buổi lễ đầy ý nghĩa hôm nay, xin cho phép tôi nhiệt liệt chào mừng sự ra đời của Quỹ Dịch thuật Phan Châu Trinh, và, nhân dịp quý báu này, tôi xin phát biểu vài suy nghĩ về việc tổ chức dịch sách kinh điển; và sau đó, trình bày đôi nét chung quanh chủ đề “Kant, nhà giáo dục”, khi được cho biết rằng Hội đồng giám định về giải thưởng đã đánh giá cao I. Kant ở tư cách này.
Thưa Quý vị,

Dịch giả Bùi Văn Nam Sơn dưới chân tượng F.G. Hegel, tại Jena mùa hè 2003 (ảnh TVC).
Xây dựng “Tủ sách Tinh hoa tri thức thế giới” với sự tài trợ của Quỹ dịch thuật Phan Châu Trinh là điều được nhiều người quan tâm đến nền học thuật nước nhà mong mỏi từ lâu, nay mới có cơ hội thực hiện. Theo chúng tôi, việc cung cấp những bản dịch, giới thiệu, chú thích (và cả chú giải, nếu có) của những tác phẩm kinh điển thuộc nhiều ngành khoa học cơ bản khác nhau là điều cần thiết hiển nhiên, ít nhất ở các khía cạnh sau đây:
-
Đón trước yêu cầu cải cách việc dạy và học ở đại học, khi những tác phẩm đầu nguồn và đầu tay rồi sẽ trở lại giữ đúng vị trí của chúng như là tài liệu chính khóa chứ không chỉ là sách tham khảo, tương tự với thông lệ ở đại học các nước khác. Ở bất kỳ đại học hay thư viện nào ở nước ngoài, kể cả ở những nước có mức độ phát triển không hơn nước ta là bao, và đặc biệt trong các ngành khoa học cơ bản và khoa học nhân văn và xã hội, tuyệt đại bộ phận nguồn sách chính yếu vẫn là bằng ngôn ngữ bản địa và trong số đó phần không nhỏ là những bản dịch. Thực tế cho thấy không thể chờ đợi hay đòi hỏi sinh viên cấp cử nhân ở bất kỳ nước nào có khả năng đọc thẳng nguyên bản hay bản dịch viết bằng ngoại ngữ. Đối với nguyên bản viết bằng các ngôn ngữ khó như tiếng Phạn, tiếng Hy Lạp-Latinh, tiếng Hán cổ, tiếng Đức v.v…, ngay cả giáo sư hay những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp ở các nước vẫn chủ yếu sử dụng bản dịch của tiếng nước họ. Như thế, không có lý do gì khiến ta mãi mãi phải đọc bản dịch bằng tiếng nước khác, mặc dù vẫn cần khuyến khích người học nỗ lực am tường nhiều ngoại ngữ để có thể tiếp thu sâu sắc hơn.
-
Việc tổ chức dịch sách kinh điển một cách có hệ thống, phấn đấu hướng theo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của tính chính xác, tính giáo khoa và tính khoa học phải là nỗ lực âm thầm, bền bỉ của nhiều thế hệ để góp phần xây dựng kho tàng thuật ngữ chuyên ngành và ngôn ngữ khoa học cho một đất nước. Kinh nghiệm các nước đã cho thấy sự rèn luyện và trưởng thành về ngôn ngữ khoa học đã tác động mạnh mẽ như thế nào đến phương pháp tư duy, đến đời sống tâm lý và cung cách ứng xử của một xã hội.
-
Đối với nước ta, công cuộc “tu thư” này càng bức thiết để nhanh chóng lấp khoảng trống về học thuật, bù lại những quãng thời gian và cơ hội đã bị bỏ lỡ, nhằm tiếp cận một cách toàn diện hơn, chính xác hơn các trào lưu tư tưởng và thành tựu khoa học trên thế giới. Để không bị tràn ngập và lạc lối trong làn sóng bùng nổ thông tin hiện nay, nhất là để tận dụng được phần hữu ích và tinh tuý của nó, việc dịch thuật có hệ thống là con đường ngắn nhất trong việc “tiếp phát” văn hóa (acculturation). Nền học thuật, hay nói rộng hơn, các giá trị văn hóa của một dân tộc sẽ càng phong phú và sáng rõ khi có dịp cọ xát, thử thách và giao hòa với kho tàng tinh hoa của thế giới, nhất là với một đất nước vốn có truyền thống “tịnh hành” rất quý báu, tức để cho nhiều trào lưu tư tưởng được cùng tồn tại và phát triển như nước ta trước đây. Lịch sử tư tưởng thế giới đã cho ta biết bao ví dụ về sự tiến bộ hay tụt hậu của một xứ sở hay thậm chí của một tác giả do được tiếp thu sớm hay muộn thành tựu nghiên cứu của nước ngoài thông qua các bản dịch.
Ý thức tầm quan
trọng như thế của việc dịch
và chú giải sách kinh điển
(thậm chí có thể nói không
ngoa rằng nếu không có được điều ấy,
các
phân khoa nhân văn và xã hội
ở các nước chắc phải “đóng
cửa” hết!), nên
ở các nước phát triển, nhất là ở
châu Âu, nơi có khá nhiều
ngôn ngữ bản
địa, công việc dịch thuật luôn sôi động.
Mặt khác, do tính đặc thù của
loại sách này, người ta biết rằng không
thể phó thác hoàn toàn cho
cơ
chế thị trường mà cần có sự hỗ trợ đặc biệt từ
phía nhà nước, các tổ
chức phi chính phủ, các doanh nghiệp
và các nhà hảo tâm.
Tên tuổi của
các Quỹ dịch thuật và tu thư như của Toyota,
Volkswagen, Rockefeller
v.v.. đã quá nổi tiếng.
Quỹ dịch thuật Phan Châu Trinh cũng ra đời trong bối cảnh ấy và chúng ta có cơ sở để tin tưởng vào nhiệt tâm và sự hỗ trợ tích cực từ nhiều phía. Riêng với đông đảo anh chị em Việt kiều ở nước ngoài – những người đã mong mỏi sự kiện này từ lâu và vui mừng đón nhận các dịch phẩm đầu tiên của Tủ sách Tinh hoa tri thức thế giới thông qua nhà xuất bản Tri thức ngay từ khi Quỹ dịch thuật đang trong quá trình được thành lập –, sự hân hoan và tán thưởng thể hiện ở việc ngày càng nhiều anh chị em giới thiệu sách mới, đề nghị danh sách nên dịch, hoặc trực tiếp tham gia vào việc dịch, chú giải, thẩm định, hiệu đính cũng như sẵn sàng tiếp tay, hỗ trợ cho việc xây dựng đội ngũ dịch giả đông đảo và vững mạnh trong tương lai. Anh chị em cũng đang nghĩ đến các hình thức hỗ trợ tài chính trong khả năng cho phép. Kết quả đầu tiên đáng phấn khởi mà hôm nay tôi rất hân hạnh được ủy nhiệm để thông báo đến Quý vị là sáng kiến đóng góp tài chính đầy nhiệt tình của một bạn trí thức Việt kiều đang sinh sống và làm việc tại Toronto, Canada: BS Trần Quang Khâm. BS Trần Quang Khâm sẽ đóng góp cho Quỹ dịch thuật Phan Châu Trinh 100.000 đô-la Canada (tương đương 1 tỷ 400 triệu đồng VN) vào đầu năm 2007 này và thêm 100.000 đô-la Canada vào hai năm sau đó để Quỹ dùng tiền lãi tiết kiệm của số vốn gần ba tỷ đồng Việt Nam này góp phần vào công việc tổ chức dịch thuật và hiệu đính. Mong rằng sáng kiến đóng góp tài chính rất có ý nghĩa này của BS Trần Quang Khâm sẽ được Quỹ Phan Châu Trinh sử dụng một cách hiệu quả và Quỹ sẽ thu hút ngày càng nhiều những hình thức ủng hộ và đóng góp tài chính từ các cơ quan, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm trong và ngoài nước. Tôi hân hoan thay mặt BS Khâm xin kính trao số tiền tượng trưng là 5.000 đô-la Canada đến Ban lãnh đạo Quỹ Phan Châu Trinh trong số tiền 100.000 đô la Canada đầu tiên sẽ được chuyển đến Quỹ trong những ngày tới đây.
Thưa Quý vị,
Trở lại với chủ đề thứ hai
trong bài
phát biểu này, như đã có
thưa
ở trên, tôi được cho biết một trong các
lý do chính yếu khiến tác
phẩm Phê
phán lý tính thuần tuý
nói riêng được hội đồng giám định
đánh giá
cao là ở tính chất đào luyện
tâm hồn của nó và ở ý nghĩa,
vai trò nói
chung của tác giả Immanuel Kant như là một
nhà giáo dục. Vâng, hai trăm
năm kể từ ngày Kant qua đời, bao thế hệ độc giả
có thể còn tiếp tục
tranh cãi và không đồng tình
với nhau về không ít vấn đề trong triết
học của ông, nhưng hình ảnh nguyên vẹn
đọng lại trong lòng người đọc về
Kant chính là hình ảnh nói
trên; và hình ảnh ấy, tự nó,
là một lời khen
tặng bất hủ dành cho một nhà tư tưởng. Karl
Jaspers, trong công trình
nổi tiếng Những đại triết gia, nhận định như sau:
“Không ai nắm
vững Kant mà không phản đối ông ở những
chỗ căn bản. Không ai hiểu ông
mà không đòi chỉnh sửa nhiều
câu của ông. Hiểu Kant có nghĩa
là một sự
nhất trí vô song với ông ở bề
sâu, đồng thời là một sự nghiên cứu
có
phê phán mạnh mẽ ở bề ngoài. Sở dĩ như
thế vì chính Kant, nói chung,
đã
đi vào một con đường thật sự mới mẻ. Khi phê
phán ông, ta đã trở
thành một con người khác,
nghĩa là đã tự mình lặp lại cuộc
cách mạng về tư duy của chính ông, để
tự hỏi: ta phải hiểu từng câu từng lời như thế nào
từ cùng một nguồn
cội mà ta đã đạt được nhờ một bước nhảy của lề
lối tư duy qua bản thân
Kant” [3]
.
Ba hình ảnh quen thuộc được ta hình dung về một nhà giáo dục, đó hoặc là :
- Một vị tôn
sư, một bậc giáo chủ chiếm
trọn trí óc, con tim và
lòng tin cậy của ta để ta tự nguyện làm người đệ
tử và hoan hỉ “tín,
thọ, phụng, hành”;
-
Một nhà sư phạm chuyên nghiệp, đề ra cả một lý thuyết và một triết lý giáo dục, có ảnh hưởng quyết định đến quan niệm và tổ chức về giáo dục của một nước, một vùng văn hóa và kéo dài nhiều thế hệ;
-
Một nhân cách điển hình, chỉ thỉnh thoảng mới đề cập trực tiếp đến vấn đề giáo dục, - có khi như nhân tiện nói qua hay ở những chỗ… “lạc đề” - nhưng cuộc đời và hành trình tư tưởng của họ bảo chứng cho những lời nói ấy và có sức mạnh gợi hứng lâu bền cho người đời sau. Theo cái nhìn hạn hẹp của tôi, có lẽ đức Khổng tử và I. Kant thuộc về loại thứ ba này. Đức Khổng được tôn xưng là “mẫu người Thầy của muôn đời” (Vạn thế sư biểu), nhưng các phát biểu trực tiếp của Ngài về giáo dục chỉ vỏn vẹn vài mươi câu, được ghi lại một cách khá mỏng mảnh trong Chương đầu quyển Luận ngữ (Chương “Học nhi”). Những lời ấy thật giản dị, chẳng hạn: “Quân tử bất trọng, tắc bất uy, học tắc bất cố” (Người quân tử không tự trọng thì chẳng uy nghiêm, việc học ắt không kiên cố) hay “Học nhi bất tư tắc võng; tư nhi bất học tắc đãi” (Học mà không suy nghĩ ắt sẽ sai lầm; suy nghĩ mà không học ắt sẽ mệt mỏi, rối trí, không mang lại kết quả gì). Những lời phát biểu trực tiếp về giáo dục của Kant cũng thế, nếu sưu tập lại, chắc không quá vài mươi trang giấy! Vì thế, sức nặng và sự hoằng đại của các câu nói ấy, - của Khổng, của Kant, - cần đặt trong toàn bộ tư tưởng cao thâm của các vị ấy. Tuy nhiên, không vì thế mà chúng mất đi vẻ gần gũi, thân mật như là những lời nhắn nhủ của loại nhà giáo dục luôn tự xem là người đồng đẳng, người đồng học cùng với chúng ta. Nếu với hai loại trước, ta có loại hình nhà giáo dục tiên tri và loại hình nhà giáo dục chuyên nghiệp, thì ở đây, có thể nói, ta có loại hình nhà giáo dục dân chủ. Trong hàng ngũ các nhà giáo dục loại thứ ba này, có lẽ ta sẽ không chút ngần ngại để kể đến tên nhà khai sáng Phan Châu Trinh yêu quý của chúng ta.
Trong khuôn khổ một bài phát biểu ngắn, tôi không dám dài lời, nên chỉ xin đề cập đến một khía cạnh trong tư duy giáo dục của Kant, đó là: giáo dục như là con đường của sự khai sáng với hai điểm nhấn mạnh: vai trò của triết học trong đời sống xã hội và của tính công khai.
Vai trò của triết học trong đời sống xã hội
Kant xem sự tồn tại lịch
sử của con người chúng ta như là một điểm
nhỏ trên con đường dài mà ta
không thể biết được điểm khởi đầu và điểm
kết thúc. Điểm khởi đầu thì ta chỉ có
thể phỏng đoán, còn định hướng
cho tương lai thì ta chỉ có thể dùng
các “lòng tin” của
lý trí – mà ông
gọi là “các Ý niệm tất
yếu” - để soi sáng. Còn bước đi
trên con đường
ấy là tiến trình của sự khai
sáng. “Khai
sáng là việc con người đi ra khỏi sự
không trưởng thành do chính
mình tự chuốc lấy” [4]
.
Không trưởng thành là sự bất lực,
không biết dùng đầu óc của
mình mà
không có sự hướng dẫn của người khác.
Còn tự mình chuốc lấy là do thiếu
dũng khí, thiếu lòng kiên quyết
và thói quen an nhàn, thoải
mái. Vì
thế, khẩu hiệu của sự khai sáng là: sapere aude!
(Hãy dám biết!), hãy
có gan dùng chính đầu óc
của mình! Con người rất thích ở yên
trong tình
trạng không trưởng thành, vì mọi việc
đã có người khác chỉ dẫn, sắp
đặt, lo liệu. Thoát khỏi “những xiềng
xích êm ái” ấy, con người
thấy bơ
vơ và lúng túng vì
không quen suy nghĩ và vận động tự do.
Vì thế, Kant
bảo: “Chỉ có ít người thành
công trong việc vừa trưởng thành về tinh
thần, vừa tự đi được một cách vững chắc”. Nhưng,
tiến trình khai sáng
vẫn cứ tiếp diễn, tuy chậm chạp. Một cuộc cách mạng
có thể lật đổ kẻ
độc tài nhưng không phải dễ dàng mang
lại sự cải cách đích thực về lề
lối tư duy. Các định kiến mới chỉ thay chỗ cho
các định kiến cũ, vì lề
lối tư duy khó mà được thay đổi một
cách đột ngột.
Chính
tình hình đó mới cần đến tư duy
lý tính, cần đến triết học, –
được ông hiểu vừa như là sự phê
phán, vừa như là “kỷ luật” tự
nguyện
của tư duy tự chế ước chính mình. Ông
hiểu triết học phê phán của mình
như là một đóng góp cho
đời sống chính trị-xã hội, trong
chừng mực bản thân nó có nhiệm vụ tham
gia tích cực vào tiến trình khai
sáng; đồng thời như là một triết học về
chính trị-xã
hội, trong chừng mực tư duy chính trị-xã hội cần
được suy tưởng như con
đường đi đến sự tự nhận thức tự do. “Chính trong
tư duy như thế, ta
thấy sự căng thẳng giữa một bên là ý
thức về sự yếu đuối, bất lực nhất
thời, và bên kia là lòng tin
tưởng mạnh mẽ, lớn lao về diễn trình của
trí tuệ nhân loại” (Sđd, tr. 563).
Vai trò của triết học trong đời sống chính trị-xã hội xuất phát từ cách hiểu như thế về triết học. Theo Kant, việc thiết lập, lãnh đạo và quản lý đời sống chính trị-xã hội – được ông gọi là “hiến chương dân sự” – là công việc của những nhà chính trị. Điều cần có nơi họ là: “quan niệm đúng đắn về bản tính của một hiến chương khả hữu”, “một sự dày dạn từng trải” và sau cùng “một thiện chí để kết hợp được hai điều ấy lại”. Họ không phải là những nhà triết học chuyên nghiệp, vì Kant không chờ đợi và cũng không mong muốn mô hình của Platon: vua phải là triết gia và triết gia phải… làm vua, bởi ông biết rằng “việc nắm giữ quyền lực khó mà không làm hư hỏng phán đoán tự do của lý tính”. Tuy nhiên, theo cách nói của ông, “bậc vương giả” hay “các dân tộc vương giả” (königliche Völker) - tức các dân tộc biết tự cai trị chính mình theo các quy tắc của sự bình đẳng – cần lắng nghe những nhà triết học. Trong khi phác họa các “điều khoản" cho một “nền hòa bình vĩnh cửu”, Kant đề nghị ghi thêm một “điều khoản bí mật”, đó là: “Các quốc gia vũ trang cần phải tham vấn các châm ngôn của các nhà triết học về các điều kiện để bảo đảm hòa bình”. Tại sao phải là điều khoản “bí mật”? Vì thật bất tiện khi yêu cầu kẻ cầm quyền phải công khai “hạ cố” tham vấn các triết gia! Cho nên, điều kiện để thực hiện “điều khoản bí mật” ấy chỉ là hãy để cho các triết gia được ăn nói tự do và công khai. Một mặt, ông biết rằng trong lịch sử (nói riêng ở châu Âu), vị trí của triết học vốn khiêm tốn và chông chênh. Nó không những đứng sau pháp gia [nhà cầm quyền] mà còn bị thần học [hệ tư tưởng chính thống] bắt làm “con sen” nữa. “Chỉ có điều không rõ là “con sen” này có nhiệm vụ cầm đèn đi trước soi đường hay lẽo đẽo đi sau nâng váy cho bà chủ”! Mặt khác, ông lại thấy các triết gia – do bản chất tự do của công việc suy tưởng của họ – không bao giờ hình thành nên một phe nhóm hay tầng lớp, nghĩa là không hề có quyền lực. “Trong nhân dân, họ không thỏa thuận riêng với nhau (như tầng lớp giáo sĩ) mà chỉ đề ra các dự phóng với tư cách là người công dân” và “họ chứng minh một cách hoàn toàn không khả nghi rằng họ chỉ quan tâm đến chân lý mà thôi”. Các ý tưởng rất nghiêm túc đằng sau cách nói hóm hỉnh ấy về vị trí và vai trò của triết học trong đời sống cộng đồng xuất phát từ quan niệm rất sâu sắc của ông về bản chất của triết học. Ông nêu mấy đặc điểm sau đây:
1. “Ta không bao giờ có thể học triết học mà cùng lắm chỉ là học cách triết lý”
Tất nhiên, ta vẫn có thể và cần học triết học với tư cách là một kiến thức vững chắc và chính xác về lịch sử tư tưởng. Nhưng, kiến thức lịch sử về triết học chưa chứng tỏ được năng lực phán đoán từ chính nhận định của mình. Ta chỉ được “đào tạo theo lý trí của người khác” như một “khuôn dấu sống” [5] mà thôi. Do đó, ai muốn học cách triết lý thì phải xem “mọi hệ thống [tư tưởng] chỉ như là lịch sử về việc sử dụng lý tính” mà thôi và ta hãy dùng chúng như là đối tượng cho sự rèn luyện của chính mình. “Người học trò không học những tư tưởng mà học tư duy”, và vì thế, “thật là một sự lạm dụng chức trách sư phạm khi thay vì mở rộng năng lực suy nghĩ của học sinh và đào luyện họ để có được sự thức nhận trưởng thành trong tương lai thì lại làm cho họ tưởng rằng đã có sẵn một kho kiến thức đã hoàn tất khiến từ đó nảy sinh sự ngộ nhận về khoa học”.
2. Kant phân biệt giữa triết học như là “quan niệm trường ốc” với triết học như là “quan niệm toàn hoàn vũ”
Triết học trường ốc là chỉ đi tìm “một hệ thống kiến thức với mục đích duy nhất là tính hoàn chỉnh về lôgíc”, tức chỉ nhằm đưa ra các quy tắc sử dụng lý trí cho bất kỳ mục đích nào, hầu mang lại kỹ năng, tài khéo chứ không cần biết kiến thức ấy đóng góp gì vào cứu cánh tối hậu của lý tính con người và hạnh phúc của nhân loại. Ngược lại, triết học “toàn hoàn vũ” là khoa học về các cứu cánh tối hậu của con người, là quan niệm mang lại “phẩm giá, tức giá trị tuyệt đối” cho triết học. Mục đích của ta thì có nhiều, nhưng cứu cánh tối hậu thì chỉ có một, đó là toàn bộ vận mệnh của con người, và nền triết học về điều này chính là đạo đức học theo nghĩa rộng nhất. Vì thế, với tư cách là quan niệm “toàn hoàn vũ”, triết học “liên quan đến mọi con người". Nó cao xa nhưng giản dị, vì “không có một nền triết học cao siêu nào có thể hướng dẫn cho ta bằng sự hướng dẫn mà Tự nhiên đã phú bẩm cho lương năng bình thường nhất” (Sđd, B859).
3. Triết học hợp nhất quan niệm trường ốc và quan niệm toàn hoàn vũ chính là học thuyết về sự hiền minh với tư cách là khoa học.
Vì “khoa học là khung cửa hẹp dẫn đến học thuyết về sự hiền minh” [6] . Không có sự hiền minh, khoa học là vô nghĩa; còn sự hiền minh sẽ không hiện thực nếu không có khoa học. Các ngành khoa học riêng lẻ tự chúng là đáng ngờ về mặt giá trị, bởi chúng không tự biện minh được giá trị của mình. Khoa học chỉ có thể có được một giá trị nội tại đích thực với tư cách là cơ quan của sự hiền minh, và giá trị nội tại ấy sẽ do triết học mang lại. Và cũng bởi lẽ thông qua triết học mà các ngành khoa học có được trật tự và sự liên kết, nên hầu như triết học sẽ khép lại vòng tròn tuần hoàn khoa học như là chiếc “vương miện của tinh thần con người”.
4. Triết học phê phán của Kant thường được cảm nhận như là sự phá hủy triết học cổ truyền.
Ông trả lời: sự
phá hủy có tính tiêu
cực và phủ định ấy chỉ gây tổn hại và
mất mát đối với các trường
phái
giáo điều, chứ không phải cho bản thân
triết học. Bằng sự minh định các
ranh giới để buộc lý tính thuần túy
phải tuân thủ “kỷ luật của tư duy”,
sự phê phán mở ra không gian
cho cái tích cực: mang lại bước đi
vững chắc cho khoa học cũng như cho lòng tin vào
lý trí con người. Nếu
chủ nghĩa giáo điều bao giờ cũng kết thúc ở chủ
nghĩa hoài nghi và sự
mất lòng tin, thì sự phê
phán sẽ dẫn đến khoa học và sự xác
tín.
5. Tác dụng tiêu cực, phủ định của triết học phê phán, do đó, chỉ là một phương diện của toàn bộ triết học.
Những nhà khoa học
riêng lẻ đều chỉ là những nhà
chuyên môn, thiện nghệ trong việc sử dụng
lý tính. Nhưng, “đứng lên
trên tất cả còn có một Bậc
Thầylý tưởng
sử dụng họ như những công cụ phục vụ cho sự tăng tiến của
các cứu cánh
cơ bản của lý tính con người. Chỉ có
bậc thầy lý tưởng này mới xứng
danh là “Triết gia”, song lại
không tồn tại thật sự ở đâu cả. Tuy
nhiên, ý niệm về quyền năng ban bố luật lệ của
Triết gia vẫn lắng đọng
trong đáy sâu tâm hồn của mỗi người
chúng ta… Trong ý tưởng cao cả
này,
thật quá tự cao nếu tự xưng mình là
triết gia và dám cho rằng mình
đã
đứng ngang hàng với hình ảnh nguyên mẫu
của bậc triết nhân chỉ có thể
có trong Ý niệm” [7]
. Vậy, theo Kant, “Nhà hiền triết đích
thực” – như là bậc thầy của sự
hiền minh bằng chính hình ảnh mẫu mực của
mình – là lý tưởng để được
mãi mãi vươn tới của nền giáo dục
nhân bản và khai
phóng.
Tính công khai của triết học và khoa học.
Tôi xin bước sang điểm thứ hai: tính công khai của triết học và khoa học.
Đối với “hiến
chương của đời sống cộng đồng”, tính
công khai là yếu
tố quyết định, bởi vì bản chất của lý
tính là tính có thể
thông báo
được một cách không bị hạn chế đối với
chính mình và với người
khác.
Triết học hiểu tầm quan trọng ấy nên luôn tạo ra
“ý chí thông
báo”. Lý
tính sẽ chết ngạt nếu không có bầu
không khí của sự truyền thông. Đi
vào chi tiết, Kant vạch rõ rằng mọi
hình thức của lý tính đều cần đến
tính thông báo công khai:
những khái niệm (khoa học) là đều có
thể
thông báo được, khác với những cảm
giác riêng tư của ta. Phán
đoán về
hành vi luân lý cũng “cần
được thông báo một cách phổ biến bằng
những
khái niệm nhất định của lý tính thực
hành, chẳng hạn: tốt, xấu, thiện,
ác. Phán đoán thẩm mỹ tuy
không cần đến “khái niệm của
lý trí” nhưng
vẫn được tiến hành nhờ vào Ý niệm về
một “cảm quan chung”, hầu như là
phán đoán nhân danh lý
tính chung của con người.
Chỉ bằng sự
thông báo công khai thì việc
mở rộng và kiểm tra đối
với lý tính mới có thể thực hiện được.
Do đó, tính công khai là
điều
kiện của tính người, của tính nhân văn
(Humanität), hay nói cách
khác,
tính nhân văn chính là
tính có thể truyền thông được cho nhau.
Trong
các châm ngôn của lý
trí con người, bên cạnh sự “tự suy nghĩ
bằng cái
đầu của mình” và “suy nghĩ
nhất quán với chính mình”,
Kant còn nhấn
mạnh đến châm ngôn: “suy nghĩ từ vị
trí hay quan điểm của người khác”.
Đó là nguyên tắc của “lề lối
suy tư được mở rộng”, vượt ra khỏi “các
điều kiện riêng tư, chủ quan của phán
đoán” [8]
.
Vậy, tự do của sự
thông báo là điều kiện của tự do tư
duy. Không có
sự thông báo thì tư duy bị dồn
vào góc hẹp của cá nhân
và trong sự nhầm
lẫn chủ quan. Ông viết: “Quyền lực bên
ngoài nào tước đoạt sự tự do
thông báo công khai tư tưởng của con
người thì cũng tước đoạt sự tự do
suy nghĩ của họ”.
Tiến trình khai
sáng thoát thai từ sự tự do của lý
tính và tạo nên
sự tự do ấy trong toàn bộ đời sống chính
trị-xã hội bằng hai bước: sự
khai sáng cho quần chúng nhân
dân và sự khai sáng đối với
nhà cầm
quyền.
Với quần chúng
nhân dân, sự khai sáng đòi
hỏi nhân dân “phải sử
dụng lý trí của mình một
cách công khai trong mọi lĩnh vực”.
Ông phân
biệt: một viên chức, một binh sĩ, phải biết tuân
lệnh trong công việc.
Nhưng, với tư cách là “học
giả”, họ lại có quyền tự do phát biểu
công
khai về những sai lầm của bộ máy quân sự, của bộ
máy hành chính. Và nếu
họ thấy chức trách không còn
phù hợp với lương tâm nữa thì
hãy từ chức.
Nói cách khác, “trong
“công việc” thì phải
tuân lệnh, nhưng trong phát
biểu công khai của lý trí
thì mọi sự giới hạn là phản lý
trí”. Đối với
nhà cầm quyền, sự khai sáng thực chất
là phải bắt đầu ở họ vì họ là
những người có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ
nhất đối với xã hội.
Tính
công khai trong đời sống chính trị là
điều kiện của luật pháp
và pháp quyền. Không có
tính công khai, không thể thực hiện được
sự
công chính. Người công dân
phải được phép tiền giả định rằng người cầm
quyền không muốn vi phạm quyền hạn hợp pháp của
mình. Với tiền giả định
ấy, việc vi phạm quyền công dân được hiểu
là do nhầm lẫn hay không am
tường các hậu quả nào đó của luật
pháp. Vì thế, người công dân
phải có
quyền phát biểu công khai về điều mà họ
cho vi phạm pháp luật ấy. Như
thế, “tự do của ngòi bút
là vị thần linh duy nhất của dân quyền”.
Các giới hạn của sự tự do này chỉ có
thể là do chính lý tính tự
đặt cho
chính mình mà thôi:
đó là sự tôn trọng hiến chương
dân sự, tôn trọng lề
lối tư duy tự do và sự làm chủ tinh thần
phê phán của lý tính.
Các luận điểm
cơ bản trên đây của Kant dẫn đến các vận
dụng cụ thể
trong lĩnh vực nghiên cứu và giáo dục,
xoay quanh các chủ đề còn rất
thiết thực với chúng ta ngày nay: bảo vệ quyền tự
do nghiên cứu của nhà
khoa học, vun bồi tinh thần phê phán và
khả năng tự đề kháng của người
học, và hướng đến nền giáo dục toàn
diện và khoan dung để “làm
công dân
thế giới”.
- Từ nhận định:
“thật là một điều hết sức phi lý khi
muốn nhờ lý
tính mang lại sự khai sáng, mà ngay từ
đầu, các bạn lại bắt buộc nó
phải nhất thiết đứng về một phía [chính đề hay
phản đề do các bạn quyết
định]”. Do đó, không có lựa
chọn nào khác ngoài việc:
“hãy để yên cho
mỗi nhà tư tưởng tự đi riêng con đường của họ;
hãy để cho họ thể hiện
hết tài năng, để họ minh chứng các tư tưởng
thâm trầm và mới mẻ, nói
ngắn, hãy để họ chứng tỏ họ làm chủ sức mạnh của
tư duy, và như vậy,
rút cục, chỉ có lý
tính bao giờ cũng là người thắng cuộc.
Còn
nếu các bạn dùng các phương tiện
khác như ràng buộc dư luận, kềm hãm
suy tư, lên án phản nghịch, kích động
đám đông (…) rồi tập hợp lực
lượng theo lối chữa lửa thì chỉ tự biến mình trở
thành kỳ cục, làm trò
cười cho thiên hạ mà thôi” [9]
.
Vì ông tin rằng: “lý
tính đủ sức dùng chính
lý tính
để tự thuần phục và tự kiềm chế nó trong
các giới hạn hợp lý, khiến các
bạn không cần phải huy động một lực lượng canh giữ nhằm đề
kháng lại
nó” (nt).
- Đối với người học,
ông đặt câu hỏi: “phải chăng đối với
các bạn
trẻ đang được phó thác cho việc giảng dạy ở
nhà trường, ta cần khuyến
cáo họ tránh xa các tác
phẩm ấy [tức các tác phẩm của sự tự do
nghiên
cứu], ngăn cản không cho họ biết được lập trường nguy hiểm
này chừng
nào ta cho rằng phán đoán của họ chưa
đủ vững vàng, và học thuyết mà ta
muốn nhồi nhét cho họ chưa đủ bám rễ
sâu trong trí não để tự họ đủ sức
chống lại các quan điểm đối nghịch bất kể từ đâu
đến?”. Rồi ông tự trả
lời: “Tất nhiên, nếu bản thân ta tiếp tục
đứng mãi trong phương pháp
giáo điều (…) và chẳng biết
cách nào để giải quyết cuộc tranh biện
ngoài cách chọn hẳn một phía để chống
lại phía kia, có lẽ trước mắt,
chỉ có hạ sách ấy. Nhưng về lâu
dài,
không gì vô lý và
kém hiệu quả bằng muốn giữ mãi tinh thần của
thanh
niên dưới sự giám hộ càng lâu
càng tốt để tránh cho họ khỏi phạm sai
lầm. Vì, sớm muộn họ cũng sẽ tiếp cận với các
tác phẩm trên, và liệu họ
có giữ vững niềm tin của thời trai trẻ? Những thanh
niên không được
trang bị gì khác ngoài những vũ
khí giáo điều, không thể
phát hiện được
sự sai lầm tiềm tàng ngay trong những quan điểm của
mình cũng như của
đối phương, sẽ thấy các luận điểm của đối phương
là hấp dẫn, mới mẻ hơn
những gì họ đã được học, điều ấy tất sẽ gợi
lên trong lòng họ sự nghi
ngờ và bất mãn rằng trước đây những
người lớn đã lợi dụng lòng ngây
thơ, cả tin của họ. Họ nghĩ rằng không có
cách nào tốt hơn để chứng
minh sự trưởng thành là vứt bỏ mọi lời răn dạy,
giáo huấn – có thể đầy
thiện ý trước đây – rồi vì
chỉ quen với lối suy tư giáo điều, họ hăng
say nốc từng hơi dài ly thuốc độc cũng không
kém giáo điều, để hủy diệt
những tín điều trước đây của họ!” [10]
. Ông đề nghị: “Do đó, trong
giáo dục, người ta nên đi con đường
hoàn
toàn ngược lại, với điều kiện tiên quyết
là hãy huấn luyện thuần thục
cho thanh niên tinh thần và phương pháp
của việc phê phán lý
tính”…
Tinh thần và phương pháp phê
phán lý tính không
gì khác hơn là làm
mất hết khả năng gây ảo tưởng”
(B784) của những lập luận giáo điều của chính
mình và của đối phương,
điều kiện căn bản cho sự tăng tiến về nhận thức lý thuyết.
Rồi bằng khả
năng phân tích, so sánh những
hành vi một cách tỉnh táo,
không định
kiến, con người tự vun bồi năng lực hành động luân
lý cho chính mình.
Thêm vào đó, việc rèn luyện
năng lực phán đoán vô vị lợi trong
lãnh vực
thẩm mỹ, con người “dọn mình” để cảm thụ
cái đẹp, cái cao cả trong tự
nhiên và nghệ thuật. Tất cả các điều ấy
mở rộng chân trời của con
người, chuẩn bị cho họ làm người “công
dân thế giới” với đầy đủ
sự tự trị và chủ quyền. Theo Kant, đó
là viễn tượng của “lịch sử phổ
quát” của nhân loại trong một
“nền hòa bình vĩnh cửu”
mà mục đích tối
cao của nó là phát huy hết
“mọi tiềm lực của con người”. Đó
là một giấc
mơ, tất nhiên. Nhưng, theo Kant, đó cũng
là một vấn đề đặt ra như một
nghĩa vụ.
Thưa Quý vị,
Tôi không dám lạm dụng hơn nữa thời gian và sự kiên nhẫn của Quý vị và cũng không có tham vọng trình bày nhiều hơn về di sản tinh thần đồ sộ của nhà đại giáo dục này. Đến với những khuôn mặt lớn trong quá khứ, ta không mong muốn gì hơn là có dịp để sọi rọi lại chính mình, để rút ra những bài học bổ ích cho hiện tại. Có lẽ đó cũng là tinh thần “ôn cũ biết mới” của Văn Thiên Tường khi ông kết thúc bài thơ trường thiên “Chính khí ca” của mình sau khi điểm lại những tấm gương trong lịch sử, bằng câu: “Cổ đạo chiếu nhan sắc”. Cụ Phan Bội Châu đã dịch sang thơ Việt:
Như hình rọi lại lên nơi mặt mình”
“Rọi lại” giúp ta biết giật mình để đi tới, biết hổ thẹn để phấn đấu.
Bùi Văn Nam Sơn
[1] Giải “Tinh hoa giáo dục quốc tế” cho tác phẩm Phê phán lý tính thuần tuý của triết gia Đức Immanuel Kant do Bùi Văn Sơn Nam dịch (Nhà xuất bản Văn Học, 2004), giá trị giải thưởng 15 triệu đồng.
[2] Chí thành thông thánh :
Thế sự
hồi đầu dĩ nhất
không
Giang sơn hòa
lệ khấp anh hùng
Vạn dân
nô lệ cường quyền hạ
Bát cổ văn
chương túy mộng trung
Tùng thử
bách niên cam thóa mạ
Bất tri hà
nhật thoát lao lung
Chư quân vị
tất vô tâm huyết
Thí bả tư văn
nhất khán thông
[3] Karl Jaspers, Die grossen Philosophen, Piper, München, 2004, tr. 584-585.
[4] Immanuel Kant: Khai sáng là gì ?
[5] I. Kant: Phê phán lý tính thuần túy, B864.
[6] I. Kant: Phê phán lý tính thực hành, A292.
[7] I. Kant: Phê phán lý tính thuần túy, B867.
[8]I. Kant: Phê phán năng lực phán đoán, B158.
[9] I. Kant: Phê phán lý tính thuần túy, B774-775.
[10] I. Kant: Phê phán lý tính thuần túy, B783.
Các thao tác trên Tài liệu